Trường Thiên Liên Hoàn Thi Khúc,  Vui Bút Xướng Họa

Bài XH 42 Liên Khúc

Đôi Hàng Phi Lộ:
Kính cả làng thơ, thành thật xin lỗi tất cả chư liệt vị phải bỏ thì giờ ra đọc một bài thơ thuộc thể loại “Trường Thiên Liên Hoàn” có chiều dài như thế này, cụ thể cho thấy bài thơ hôm nay có tới “42 Liên Hoàn Thi Khúc” mà thiết nghĩ từ xưa nay, chắc quý vị chưa hề đọc qua bài “trường Thiên Liên Hoàn” nào mà dài lê thê như vậy. Do đó, nếu quý vị nào không có nhã hứng để đọc tiếp hay không có hứng thú về thơ phú thì xin cứ tự nhiên deleted ngay từ bây giờ và cho tôi xin cáo lỗi vì đã làm phiền chư liệt vị.
Vâng, đó là bài thơ “Họa Vận” của tôi với nhan đề: “ Việt Nam Quê Hương Tôi” mà tôi đã Họa nguyên Vận và đã hoàn tất vào ngày 12 tháng 5 năm 2005, (chỉ sau 3 ngày của bài Xướng) căn cứ bài Xướng đã post lên trên các diễn đàn (Việt Nam Thi Đàn) là vào ngày 9 tháng 5 năm 2005.
Và nguyên bản của bài “Xướng” với tiêu đề là “ Việt Nam- Đất Nước- Con Người” của 2 thi sĩ Trần Lan  Chi và Ái Hoa. (2 thi sĩ này nghe đâu hiện vẫn còn ở trong nước, và cũng có tin đồn là trên phương diện thi phú thuộc trường phái Đường Thi, thì bút pháp của 2 vị này thuộc hạng “siêu đẳng, điêu luyện, xuất chúng” điển hình như trong bài Xướng hôm nay đã cho thấy bút pháp của nhị vị  này thật là “điêu luyện” và cũng có người “đánh giá” như là: “nhả ngọc phun châu” trên thi đàn Đường Luật ở trong nước.
Và nguyên tác của bài “Xướng” thì chỉ có (36) Tam Thập Lục Thi Khúc, và tôi đã Họa y nguyên 36 thi khúc của bài Xướng, tuy nhiên, vì sẵn đang hứng bút nên tôi “bonus” thêm 6 Liên Khúc nối tiếp để kết thúc bài Họa, 6 Liên Khúc đó cốt để vinh danh Ngũ Hổ Tướng của QLVNCH, đã tuẫn tiết vị quốc vong thân.  Vậy cộng chung bài Họa Vận của tôi hôm nay có tất cả là 42 Liên Hoàn Thi Khúc.
Trân trọng:

(Bài Họa)
VN-QUÊ HƯƠNG TÔI
1
Quê hương gấm vóc cảnh an nhiên,
Từ Bắc chí Nam sông núi liền.
Đêm Hạ đàn ca vui khắp nẻo,
Ngày Xuân trẩy hội nhộn ba miền.
Ngư ông gác mái, thuyền theo nước,
Phố thị lên đèn, chợ nhóm phiên.
Tưởng niệm người xưa từng dựng quốc,
Ân Trời, bút thảo nét hoa tiên.
2
Hoa tiên thanh tú, sắc hương còn,
Nguyện với lòng, thề giữ nước non.
Nghe tiếng hịch văn, sông núi gọi,
Lên đường cứu quốc, máu tim dồn.
Gươm Can giết giặc, tay khôn mỏi,
Ngựa Xích bung cương, vó chẳng mòn.
Thệ quyết không dung phường ác tặc,
Xông pha thiên lý bụi chân bon.
3
Thiên lý bụi mù mịt tứ phương,
Giữ an bờ cõi quyết lên đường.
Trai hùng giúp nước xông pha trận,
Gái tiết gìn rường dãi nắng sương.
Ước thuở thanh bình Đường hợp Việt,
Mơ thời thịnh trị Thái hòa Mường.
Vẳng nghe tiếng hát cô thôn nữ,
Lảnh lót câu hò giọng dễ thương.
4
Lảnh lót câu hò giọng dễ thương,
Trầm trầm Giốc, Chủy, Vũ, Cung Cường.
Khi thăng réo rắt chênh vừng nguyệt,
Lúc bổng dập dồn lệch bóng dương.
Lục viện chưa vui lòng Hán Tổ,
Tam cung chẳng đẹp dạ Minh Đường.
Ngắm trăng thưởng thức Thanh Bình Điệu,
Say đắm Dương Phi lạc Khúc Thường. *
(*) Khúc Nghê Thường
5
Vui với Dương Phi lạc Khúc Thường, (*)
Gió xuân thổi nhẹ bóng đêm buông.
Nụ cười nhập mộng say hoa nguyệt,
Sóng mắt thu hồn đắm sắc hương.
Xã tắc ngả nghiêng ngưng giáng chỉ,
Giang sơn sụp đổ hết thăng đường.
Bởi mê nữ sắc như tiên giáng,
Tan nát triều ca thuở phú cường!
(*) Trách vua Đường Minh Hoàng mải mê nàng
Dương Quý Phi khiến giang sơn xã tắc sụp đổ.
6
Thuở ấy Đường triều mất núi sông,
Đây thời Việt tộc Xuất Tiềm Long.
Quê hương phát triển như dòng thác,
Đất nước thăng hoa tợ sóng luồng.
Một mảnh địa linh sinh cháu Lạc.
Ba miền nhân kiệt xuất con Hồng,
Càn Khôn dẫu nặng chung vai gánh,
Xây dựng cơ đồ thỏa ước mong.
7
Ước mong đất nước trổ hoa xuân,
Vịnh phú đề thơ, kể truyện thần,
Nàng Chức chờ ai bên Điện Thố?
Chàng Ngưu đợi bậu cuối Sông Ngân.
Phải chăng bà nguyệt rời cung quảng?
Nên khiến ông tơ xuống cõi trần!
Rồi quấn chỉ hồng xe lộn mối,
Lại còn mang lụy đến thi nhân!
8
Thi nhân có ngọn bút hào hùng,
Bát cú liên hoàn, nhất điểm hồng.
Năm vận tung ra phò chính nghĩa,
Tám câu phóng tới động thần chung.
Lời thơ cử đỉnh ngời trang sử,
bút thép bạt sơn rạng núi sông.
Quyết chẳng dung tha loài ngạ quỷ,
Soi gương tất thấy tấm lòng trong.
9
Lòng trong như tuyết trải đường xa,
Liễu rũ màu xanh sắc mượt mà.
Mãi nhớ đêm nao cung nhạc trổi,
Càng yêu thuở ấy tiếng oanh ca.
Sánh vai ngắm cảnh bên hồ nguyệt,
Soi bóng tỏ tình dưới trướng hoa.
Giả biệt người yêu khi quốc biến,.
Súng gươm làm bạn với mình ta
10
Mình ta với bạn, trận Bình Long,
Vạt áo chinh nhân nhuộm máu hồng.
Giặc pháo liên tu trùm xóm chợ,
Đạn cày bất tận lấp nương đồng.
Vào sinh tỏ chí dòng con Lạc,
Ra tử noi gương giống cháu Rồng.
Nào ngại thân trai da ngựa bọc,
Mẹ già tựa cửa sáng đêm trông.
11
Đêm trông ngày ngóng bóng thoi qua,
Mẫu tử tình thâm quả đúng là.
Đầu bạc dầm sương dòng lệ đẵm,
Mắt mờ dãi nắng giọt châu sa.
Lòng mong mốt nọ lên ngôi Nội,
Dạ ước mai kia được chức Bà.
Ấy thế thằng con còn vắng biệt,
Không về dâng mẹ khải hoàn ca.
12
Khoải hoàn thắng trận sử xanh ghi,
Tam Giáo Quy Nguyên, Phổ Độ Kỳ.
Tòa Thánh Cao Đài, Tiên cốt cách,
Điện Thờ Phật Mẫu, Thánh phương phi.
Trường Lưu học đạo ngăn ma đến,
Chí Huệ dạy đời cản quỷ về.
Thiên Nhãn Tây Ninh đèn Thái Cực,
Làm gì quỷ sứ dám băng đê?
13
Băng đê giữa lúc nắng bừng chang,
An Lộc ghềnh thiêng lộng gió ngàn.
Mười Một làng Kinh vây giặc ác,
Hăm Lăm xóm Thượng trải lòng vàng.
Thừa Thiên trừ giặc khu rừng dội,
Quảng Trị thu quân tiếng sóng vang.
Bóng nguyệt lung linh làng Cẩm, Gõ,
Đăng Xương anh dũng khắc thành trang.
14
Thành trang Việt sử rạng muôn nơi,
Quảng Ngãi viện binh đến kịp thời.
Dung Quất, hải tuần vây chật biển,
Trà Bồng, không tập dội long trời.
Địch quân tản lạc băng rừng lội,
Giặc phỉ rụng rời xuống nước bơi.
Phật Thệ chùa thiêng Đô Quốc cũ,
Thấy lương dân thác, lệ tuôn rơi.
15
Lệ tuôn, ruộng muối Bạc hoang Liêu (*)
Thôn nữ nơi đây đẹp diễm kiều.
Du kích gài mìn, người oán trách,
Dân làng sập bẫy, kẻ kêu rêu.
Đấu tranh, Trà Mới đầy giông tố,
Trổi dậy, Vĩnh Châu ngập sóng triều.
Vườn nhãn ngọt thanh mùa lúa chín,
Yên bình mới thấy cảnh phiêu diêu.
(*) Tỉnh Bạc Liêu
16
Phiêu diêu phong sắc đã quy nguyên,
Dàn dựng làm chi truyện ảo huyền ?.
Hà Tĩnh người tu còn trước nhất,
Nghệ An kẻ ác chết đầu tiên.
Phù So đỉnh trọc đầy ma dữ,
Bà Mụ triền cao vắng thánh hiền.,
Một dải Trường Sơn toàn thảo khấu,
Có đâu Chúa, Phật ở ven biên ?.
17
Ven biên quỷ sứ quẩn quanh đây,
Ngàn đảo lô nhô sóng vỗ đầy.
Thạch Động, Hòn Gai tua vạn bóng,
Thiên Cung, Đầu Gỗ tỏa ngàn mây.
Thăng Long thành cũ nhiều yêu quái,
Quốc Miếu ngày nay lắm quý thầy.
Khắp nước nơi nơi giờ phát triển,
Muôn người giàu có quả là hay.
18
Quả là lũ trẻ phá nhà tan,
Nước mất muôn người mắt lệ chan.
Chợ Lớn Hoa kiều vàng ngập lút,
Sài Gòn Việt tộc bạc tràn lan.
Ra đi, dân dã quăng tài sản,
Ngó lại, trảo nha hốt tỷ ngàn.
Nhà cửa huy hoàng thê với thiếp,
Có đâu bình đẳng để mà san ?.
19
Có đâu bình đẳng để mà san ?,
Tội lắm ai ơi khắp nước Nam !.
Cao Lãnh hằng đêm beo kéo lũ,
Tháp Mười buổi sáng cọp vây đàn.
Cắn người hút máu khi lên thác,
Xé xác phanh thây lúc xuống ngàn.
Cáo mượn oai Hùm rung nhát khỉ,
Trời già cũng khiếp bọn chồn man.
20
Bọn chồn man rợ nhởn nhơ đầy,
Chúng nhảy sang Phà lẹ tợ bay.
Mỹ Thuận chim đàn ưa dựng tổ,
Long Hồ cá lũ thích tìm bầy.
Nay ngư khiếp hãi tuôn ra biển,
Mai nhạn kinh hoàng bám níu mây.
Thảo mộc úa sầu mầu ủ dột,
Thi nhân chán nản uống ngà say.
21
Uống ngà túy lúy ghét gian nhân,
Giặc đến Cà Mau họa thập phần.
Pháo kích miễu chùa thôi hết nói,
Đặt mìn đường xá chẳng cần bàn.
Tinh sương bà Tám quẩy rau đội,
Hừng sáng con Hồng thêu áo đan.
Một tiếng nổ rầm thân xác nát,
Chỉ còn vũng máu, vạn người than.
22
Vạn người thán oán tự hôm nào,
Khiến kẻ hiền lương phải núng nao.
Mới thấy bóng chồn, hoa biến sắc,
Vừa nghe danh cáo, lá thay màu.
Trời đêm buồn thảm, lu vầng nguyệt,
Bóng tối u sầu, nhạt ánh sao.
Khắp nước sống trong màu ảm đạm,
Mặt mày dân chúng mét xanh xao.
23
Xanh xao khắp nước phải lo xa,
Thuở trước Bình Tuy cảnh thái hòa.
Voi giậm, beo trèo, bầy cá lặn,
Cọp gầm, hươu chạy, cánh diều sa.
Bốn buôn tộc Thượng, con yêu Mẹ,
Hai trại dân Kinh, cháu kính Bà.
Suối nóng quanh năm như thượng giới,
Gỗ dầu, cẩm, trắc lấn muôn hoa.
24
Gỗ dầu, cẩm, trắc, lấn muôn hoa,
Rồi bỗng ngày kia bóng xế tà.
Ngàn kẻ thây phơi vì sọ bể,
Muôn người máu đổ bởi đầu va.
Dép râu móc mật, chôn người sống,
Nón cối moi tim, giết kẻ la.
Thấy cảnh thanh bình nay biến loạn,
Hiệp Hòa, dân chúng lệ tuôn sa.
25
Lệ tuôn thấm đẵm đất Cao Nguyên,
Đau xót tâm can của kẻ hiền.
Gọi Chúa, đàn chiên van vái nguyện,
Kêu Thần, sư cụ khấn cầu nguyền.
Đêm e móng cáo cào ngôi Thánh,
Ngày sợ nanh chồn phá cửa Thiền.
Hòa Hảo, Cao Đài đều khóc lóc,
Miền Trung sao lắm nghiệp oan duyên.
26
Oan duyên, nghe tiếng hát hò lờ,
Róc rách trên ghềnh thác suối mơ.
Du kích đặt mìn, tàn ruộng lõm,
Thiết xa lăn bánh, nát nương nhô.
Liềm phơ đứt cổ, quăng chân núi,
Búa đập lìa đầu, liệng góc bờ.
Đắk Lắk, Kông Tum dân sợ hãi,
Muôn người bỏ chạy chẳng chần chờ.
27
Muôn người bỏ chạy chẳng chần chờ,
Một lũ côn đồ dụ gái tơ.
Cướp của lương dân, thằng hút xách,
Hiếp dâm thiếu nữ, đứa đẩy xô.
Tịch thu chùa miễu, đau con Phật, *
Phong tỏa trường làng, hãm các Cô.
Trước Huế, Thừa Thiên rồi Quảng Trị,
Sài Gòn, Bình Chánh đến Cần Thơ.
28
Sài Gòn, Bình Chánh đến Cần Thơ,
Tội ác lũ chồn mới kể sơ.
Trổ ngón tráo bài, xây mộng ảo,
Tung đòn bịp phé, dựng mơ hồ.
Đùa cùng ác quỷ là ngu dốt,
Giỡn với ma trơi tức dại khờ.
Hậu Nghĩa, Đức Hòa lan các tỉnh,
Miền Nam dân chúng chết đầy bờ.
29
Đầy bờ, chiến cuộc đã leo thang,
Máu của sanh linh đổ chẳng màng.
Bê 40, miểng văng lểnh nghểnh,
Súng Ak, đạn rít rền rang.
Bốn vùng Chiến Thuật không đầu phục,
Khắp nước Tiểu Khu chẳng chịu hàng.
Định mệnh cuối cùng đành bức tử,
Chỉ vì “Tuân Lệnh”, Hận lòng mang.
30
Hận lòng đau đớn dạ u hoài,
Một lũ cáo chồn xé xác nai.
Ngày núp hang sâu, vùng núi thẳm,
Đêm ra xóm vắng, bến sông dài.
Đang khi ông lão cơn ho suyễn,
Trong lúc đàn bà bụng có thai.
Tất cả bị lùa đi đỡ đạn,
Đào hầm chôn xác. Hỏi do ai ?.
31
Do ai gieo họa ở vòm Đông ?,
Sát khí đằng đằng hút máu Rồng.
Bóng quỷ tràn đầy trên đất nước ?,
Hồn ma ngập ngút khắp non sông !.
75 cướp nước, còn kêu chửa ?,
54 xé rào, lại bảo không ?.
Vạn thế sử xanh ghi tội ác,
Có gì danh dự ngẩng đầu trông ?.
32
Ngẩng đầu. Nước loạn, lọ là ninh ?,
Giết mẹ, đâm cha chẳng nghĩ tình !.
Cõng rắn cắn gà xưng dũng kiệt ?,
Rước voi giày mả bảo trung trinh ?.
Nửa đêm trở giấc, đau lồng ngực,
Suốt buổi nằm co, nhói khắp mình.
Xót dạ can qua hồi tưởng lại,
Tày trời tội ác thuở bình minh.
33
Ngồi buồn, nghiền ngẫm chuyện ngày xưa,
Thuốc súng ngạt mùi, ngút bóng dừa.
Bóng giặc tràn vào từ hóc núi,
Bom thù nổ tạt giữa cơn mưa.
Khe Sanh biển lửa chôn ngày tháng,
An Lộc thây ma lịm bốn mùa.
“Đại Lộ Kinh Hoàng”, quân sử khắc,
Tiếng người khóc lóc lẫn chuông khua.
34
Chuông khua tán loãng giữa u mông,
Bóng giặc tràn vào giẫm nát đồng.
Tàn sát làng xưa ngôi Miếu Thánh,
Triệt tiêu xóm mới mái Chùa Ông.
Quân Dù anh dũng liền truy kích, *
Thủy Lục oai hùng cũng phản công. *
Lũ ác lui binh về Thạch Hãn, *
Mùa Hè Đỏ Lửa, khói cay nồng.
35
Khói cay, lũ ác rút binh mau,
Dân chúng hằng đêm vẫn nguyện cầu.
Sông Bé nương vườn đơm sắc thắm,
Phước Bình hoa lá trổ tươi màu.
Bỗng đâu giặc cáo căng hàng dọc,
Bất chợt binh chồn tiến thẳng sâu.
Pháo kích đêm ngày thành biển lửa,
Miền Nam thất thế thảm đeo sau.
36
Đeo sau nghề giặc sát nhân Chuyên,
Xâm chiếm miền Nam, đoạt khoáng tuyền.
Thao tác tà quyền đầy nghiệp chướng,
Thực thi ác sách những oan duyên.
Đợi xem vở chót phường cường đạo,
Để thấy ngày tàn đảng bạo quyền.
Lúc ấy cờ vàng ta dựng lại,
Quê hương gấm vóc cảnh an nhiên.
(Câu chót liên khúc 36 lập lại câu đầu trong liên khúc 1,
có bold màu đỏ, y theo bài xướng và người họa sáng
tác thêm 6 liên khúc nối tiếp để vinh danh Ngủ
Tướng QLVNCH đã tuẫn tiết và kết thúc các bài
xướng họa hôm nay. Vậy nên tất cả cộng lại là
41 liên khúc và 1 liên khúc chót để kết luận là 42 liên khúc)
MỘT PHÚT MẶC NIỆM NGŨ HỔ TƯỚNG QLVNCH:
SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN :
 37
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4

(Đã tuẫn tiết bằng khẩu súng Browning
của chính mình, trong dinh trại đóng dọc
theo bờ sông Cái Khế, Cần Thơ)
Than ôi ! nước loạn, rõ tôi trung,
Thành mất, chết theo vẹn nghĩa tùng.
Vị quốc, lòng son tâm dũng kiệt,
Vong thân, dạ sắt khí hào hùng.
Hồn thiêng vừa khuất từ thân xác,
Chí cả đã vang khắp bốn vùng.
Thiếu Tướng Khoa Nam đà tuẫn tiết,
Địch quân nghe tiếng thảy đều rung.
 
Mưỡu vĩ:
Đã trót sanh ra cầm Ấn Soái,
Thành tan, Tướng sống chỉ vô nghì !.
38
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Quân Khu 2
(Dùng độc dược quyên sinh, để tỏ cho bọn
giặc Cộng biết rằng chúng không thể nào
khuất phục được khí phách hào hùng của
người chiến binh QLVNCH)
Thành tan dũng tướng tỏ gan đồng,
Oanh liệt trọn đời, vị quốc vong.
Xuất trận diệt thù, nêu chiến tích,
Điều binh phá giặc, lập kỳ công.
Noi gương Hưng Đạo ngời trang sử,
Nối chí Quang Trung rạng cháu Hồng.
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tuẫn tiết,
Hồn thiêng siêu độ cảnh non bồng.
Mưỡu vĩ:
Độc dược quyên sinh thà tự thác,
Quyết không hàng phục lũ ma đầu.
39
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh
(Tự sát bằng khẩu súng Beretta 6. 35 ly,
vào ngày 30 -4 -75 trong trailer dùng làm
văn phòng tạm của Bộ Tư Lệnh)

 
Quy phục khác nào giết vạn binh,
Kinh luân một túi sẵn bên mình.
Sanh thời lẫm liệt, quân chồn khiếp,
Thác vẫn oai hùng, giặc cáo kinh.
Nước mất, thề không sống khuất nhục,
Thành tan, chọn cái chết quang vinh.
Dưới cằm, viên đạn oan khiên trổ,
Beretta xoáy thủng óc mình.
Mưỡu vĩ:
Nổ vang một tiếng thân hình gục,
Giặc thấy kinh hồn, ngưỡng phục ông.
40
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
(Tuẫn tiết tại căn cứ Đồng Tâm,
Mỹ Tho, nơi Sư Đoàn 7 đóng quân)
Tướng hùng vệ quốc, thác về đâu ?
Chắc hẳn thăng Thiên, quỷ khiếp sầu.
Trấn thủ biên cương, binh pháp giỏi,
Tảo thanh giặc phỉ, trí mưu mầu.
Sa cơ nước mất, không đầu phục,
Thất thế nhà tan, chẳng lụy cầu.
Hiếu thảo, Thanh liêm, gương trực tính,
Ngàn thu lấp lánh hạt minh châu.
Mưỡu vĩ:
Quyết chẳng cúi đầu khi giặc đến,
Chọn đường tự sát tỏ oai danh.

 
41
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4. Quân Khu 4
(Dùng súng cá nhân tự bắn vào tim mình.
Tuẫn tiết tại căn cứ Quân Đoàn 4, QK4, đúng
8 giờ 45 phút, ngày 30 tháng 4 năm 75 )
Chọn đường tự sát vết thương hằn,
Viên đạn sau cùng chát chúa căng.
Làm Tướng nước Nam, gươm chỉ thẳng,
Gặp Ma phương Bắc, giáo san bằng.
Quyết không đầu phục loài yêu quái,
Thề chẳng cúi lòn lũ mối nhằng.
Một phát súng thiêng lìa cõi thế,
Thê noa đau xót, khóc nhào lăn.
Mưỡu vĩ:
Mình đồng gan sắt, chắp muôn tên,
Nước mất thành tan, lấy chết đền.
 
42
Kết Luận :
Thành tan nước mất, lộ gian tà,
Chúng núp dưới màu cờ quốc gia.
“Khúc ruột ngàn trùng” khi múa hát,
“Giao lưu văn hóa” lúc đàn ca.
Bẻ cong dư luận, đâm lưng bạn,
Xông thẳng vũ đài, lụi chúng ta.
Cẩn thận sụp đòn hải ngoại vận,
Đấy là ngón hiểm lũ yêu ma.
San Jose May 12/05
Đông Thiên Triết.

 
Ghi Chú :
1/- Cảnh thanh bình . 2/- Ý nguyện. 3/- Ước Vọng. 4/- Ngẫm tích xưa. 5/- Ngẫm tích xưa . 6/ -Ước vọng. 7/- Ngẫm tích xưa. 8/- Bút thi nhân. 9/- Tưởng nhớ. 10/- Trận Bình Long. 11/- Tình mẫu tử. 12/- Cao Đài Tây Ninh. 13/- Tỉnh Bình Long. 14/- Quảng Ngãi. 15/- Tỉnh Bạc Liêu. 16/- Tỉnh Nghệ An. 17/- Vịnh Hạ Long, Hà Nội. 18/- Sài Gòn, Chợ Lớn. 19/- Tỉnh Kiến Phong. 20/- Tỉnh Vĩnh Long. 21/- Tỉnh An Xuyên. 22/- Giặc Chồn. 23/- Tỉnh Bình Tuỵ. 24/- Tỉnh Bình Tuỵ. 25/- Cao Nguyên. 26/- Đắk Lắk. 27/- Huế. 28/- Các tỉnh bị Cộng quân tàn sát. 29/- Miền Nam bị tấn công. 30/- Tội ác Cộng quân. 31/- Tội ác Cộng quân. 32/- Tội ác Cộng quân. 33/- Trận Khe Sanh. 34/- Mùa Hè Đỏ Lửa . 35/- Bình Tuy biển lửa. 36/- CS Cưỡng chiếm miền Nam. 37/- Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết. 38/- Thiếu tướng Phạm Văn Phú tuẫn tiết. 39/- Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ tuẫn tiết. 40/- Chuẩn tướng Trần Văn Hai tuẫn tiết. 41/- Chuẩn tướng Lê Văn Hưng tuẫn tiết. 42/- Bài Kết Luận.
Mời các bạn nhấn link dưới đây để đọc nguyên tác bài Xướng của 2 tác giả Trần Lan Chi và Ái Hoa:
https://dongthientriet.com/2022/06/vn-dat-nuoc-con-nguoi/

Leave a Reply