Ghi Chú: Bài Thơ “Thu Phong Lạc Diệp” này là Thiên Triết tôi Kính Họa Vận bài thơ: Sơ Thu Cảm Hứng Kỳ 2 của Đại Văn Hào Nguyễn Du: Bài thơ có tên Hán ngữ là : “初 秋 感 興 其 二 “ nội dung và nguyên vận bài thơ được chuyển ngữ như dưới đây:
Giang thượng tây phong mộc diệp hi,
Hàn thiền chung nhật táo cao chi.
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu,
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.
Dưới Đây Là Một Vài Chú Thích Hán Ngữ Trong Bài Thơ Của Tôi Như Sau:
Câu đầu trong bài thơ của tôi là: Sơn thượng thu phong diệp lạc hi, “山上秋風落葉稀” dịch là ” Gió thu trên núi thổi nhẹ lá rụng lưa thưa “chữ Hi 稀” nghĩa là ít, lưa thưa, thưa thớt.
Cụm từ trong câu thơ thứ 2 là “Thừa vân anh vũ xướng cao chi” 乘 雲 鸚 鵡 唱 高 枝, nghĩa bóng là: Bỗng dưng ta nhìn thấy đàn chim anh vũ hót gió gọi đàn cất cánh bay rồi đậu lại trên những cành cây cao, rộn ràng như vui mừng đợi chờ nhau.
(ĐT) Thừa vân 乘 雲 nghĩa đen là cỡi mây, (nghĩa bóng: ruổi theo). Anh vũ 鸚 鵡 là chim vẹt hay còn gọi là chim két.
(Dt) Chẩm 枕 là cái gối nằm, những câu thơ đã có từng sử dụng qua như trong bài thơ của cụ Nguyễn Trải có câu: 船 窗 推 枕 到 天 明 dịch ra là: Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh, nghĩa là : Nằm bên cửa sổ trên chiếc thuyền rồi trăn trở suốt đêm trên chiếc gối đến sáng mai. Do đó, cụm từ: “thôi chẩm 推枕” có nghĩa là trăn trở trên chiếc gối – (đáo thiên minh 到 天明 là đến sáng mai)
Tuy nhiên, cụm từ trong câu thơ này là: (Chẩm Sầu 枕 愁) đó có nghĩa là: “nằm trên chiếc gối với nỗi niềm ưu tư lo nghĩ” nên mang nỗi “sầu trên gối” là vậy.
Từ mịch 寞 là tịch mịch 寂 寞 sự yên lặng tĩnh mịch. (bi thanh điệu 悲 聲 調 nghĩa là âm thanh gợi buồn trong giai điệu tĩnh mịch, lặng yên.
Thùy lệ 垂 淚 “lệ rơi”: Giọt nước mắt rơi “chảy dài xuống”.