問 梅
對 梅 言 少 句,
春 早 來 春 歸。
勢 失 流 亡 客,
何 嘲 笑 是 非。
東天哲

(Chuyển Ngữ)
Vấn Mai
Đối Mai ngôn thiểu cú,
Xuân tảo lai xuân quy.
Thế thất lưu vong khách,
Hà trào tiếu thị phi.
(Dịch Nôm)
Hỏi Mai chỉ một vài lời…
Xuân chưa đến ai vời Xuân sang?
Khách xa lưu lạc ngỡ ngàng,
Xin đừng đàm tiếu, khi nàng Xuân sang.

Lời bàn:
Nói chuyện với bông hoa mai: “vấn mai”, <nhân cách hóa của câu thơ> không dài lắm, chỉ một vài lời thôi.
Theo tuần tự của mùa màng, mùa Xuân đến rồi mùa Xuân đi qua, đó là sự tự nhiên của trời đất.
Rất thương tâm cho những người khách từ phương xa vừa đến, (xin tỵ nạn vì một lý do nào đó), chân ướt chân ráo mới đặt chân đến nơi này với sự ngỡ ngàng bởi xa lạ vì cuộc sống lưu lạc khó khăn của buổi ban đầu.
Chúng ta là kẻ đến trước, thì nên giúp đở, hướng dẫn họ trên nhiều phương diện với tấm lòng độ lượng nhân ái trân trọng mà không nên cười cợt, khinh khi họ.