Trường Thiên Liên Hoàn Thi Khúc,  Vui Bút Xướng Họa

XH. Liên Hoàn 13 Khúc

Các bạn đang theo dõi Mục: “Vui Bút Xướng Họa”,  Bài Xướng THU ẨM của 4 thi sĩ: Bạch Loan – Viễn Khách – GLC – và Nguyen22 đồng Hợp Xướng và Bài Họa Vận ĐÔNG SẦU của Đông Thiên Triết

Kính chư liệt vị,
Bài Trường Thiên Liên Hoàn Thập Tam Khúc: “Đông Sầu” do tôi phụng họa theo bài Xướng Thập Tam Liên Hoàn Thi Khúc “Thu Ẩm” của bốn thi hữu “hợp tung” đồng Xướng. Đó là quý thi hữu: Bạch Loan, Viễn Khách, GLC và Nguyen22. Thời gian vào khoảng năm 2004 đến nay cũng trải mười mấy năm qua rồi. Ngẫm, vó câu đã vút qua ngoài song cửa cũng khá lâu rồi nhỉ!. Nay xin ghi lại 2 bài Xướng và Họa, mời quý vị thưởng lãm.
Bài Họa Liên Hoàn Thập Tam Khúc Đông Sầu
(1)
Thu tàn, Đông đến tuyết reo bay,
Phơ phất bềnh bồng, phủ trắng cây.
Nguyệt hạ trăng soi, bình dốc cạn,
Lầu trung nến lụn, rượu tràn say.
Quê hương biền biệt, còn đâu đó,
Tổ quốc dặm trùng, biết hỏi ai ?
Đường vắng sương mù, hơi buốt lạnh,
Màn đêm rũ xuống khối u hoài.
(2)
Màn đêm rũ xuống khối u hoài,
Gợi giấc kinh hoàng khó nhạt phai.
Khói lửa lan tràn, muôn kẻ rủi!
Đạn bom cày nát, mấy người may?
Chinh nhân mỏi mệt còn nằm đó,
Chiến mã bơ phờ vẫn đứng đây.
Mờ ảo, ánh trăng tàn, nến lụn,
Vừng đông ráng đỏ, xuất đông đoài.
(3)
Vừng đông ló dạng, đợi chờ ai?,
Rưới sợi nắng mai, buổi sáng dài.
Tráng sĩ cầm gươm, lòng chẳng núng,
Hiền thê soi kiếng, dạ không phai.
Vó câu mù mịt từ biên ải,
Lạc ngựa vang rền tận hải nhai.
Năm tháng khuê phòng, nàng khép kín,
Trâm lười, lược biếng, dạ quan hoài.
(4)
Quan hoài phu tướng ở biên phương.
Nỗi thiếp luyến thương đến đoạn trường.
Chiến địa nổ tung, mù mịt cát,
Muôn quân hò hét, chật đen đường.
Ai đi ngang ải, trao niềm nhớ,
Kẻ ở bên đồn, gởi mối vương.
Thao thức đêm nằm nghe tiếng dế,
Não nùng thương ngọc nhớ mùi hương.
(5)
Mùi hương má phấn quyện đêm trường,
Chiếc bóng đơn phòng ở hậu phương.
Biền biệt chinh phu nơi chiến địa,
Mỏi mòn cô phụ tận quê hương.
Đem thân nam tử trong thời loạn,
Diệt lũ nô hồ khắp chiến trường.
Chưa thỏa tang bồng, chưa phỉ chí,
Tình nhà gác lại nỗi niềm thương.
(6)
Niềm thương, thao thức suốt canh trường,
Kết mối duyên hoài, ấm lửa hương.
Nhớ thuở sánh vai hàng phượng vĩ,
Tiếc thời chung bóng rặng thùy dương.
Hiu hiu gió thổi, mây che nắng,
Lơ lửng trăng treo, cỏ ngậm sương.
Bấc lụn, đàn ve kêu ấm ức,
Như buồn đưa tiễn khách lên đường.
(7)
Như buồn lưu luyến kẻ xa nhau,
Cắt sợi chỉ hồng, ruột đớn đau.
Nắng hạ gió vờn, hoa nhạt sắc!,
Vườn xuân ai vẽ, lá phai màu?.
Tái tê thấy cảnh hoang liêu ấy,
Se sắt than trời cố quốc đâu?
Có biết lòng ta đang rối rắm,
Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu.

(8)

Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu,
Những ước không còn cảnh bể dâu.
Văng vẳng chân đồi, chuông Miếu dộng,
Vang rền giữa điện, tiếng Kinh cầu,
Tỳ bà dạo khúc theo con gió.
Tráng sĩ dừng chân cởi giáp câu.
Cột ngựa sau vườn, nâng chén cạn,
Thanh bình có được nối theo đâu!
(9)
Nối theo đến buổi ánh dương tà,
Điểm xuyết tàn cây, thắm lá hoa.
Bất chợt vó câu, gầm tiếng lạc,
Mới hay tráng khách, giã từ nhà.
Mang gươm mặc giáp, rời thê tử,
Gò ngựa lên đường, biệt bá gia.
Mong báo thù chung, đền tổ quốc,
Mới không hổ thẹn, khí hùng ta.
(10)
Khí hùng tôi luyện, báo ơn nhà,
Cát bụi sa trường, khói mịt xa.
Mục tử xăng văng im sáo trúc,
Cô thôn vắng bặt tiếng heo gà.
Bóng thù tràn đến, tàn nương sắn,
Gót giặc giẵm lên, nát cỏ hoa.
Trận chiến khơi mào đầy biển lửa,
Đao binh trùng điệp, khắp giang hà.
(11)
Giang hà sóng gió, kiếp ly hương,
Thấy đấng anh hùng, dạ xót thương.
Tình đậm nghĩa sâu, chia lối mộng,
Chàng sầu thiếp lụy, cách sông tương.
Quyết đem bút thép trừ ma đạo,
Nguyền đổ máu đào diệt quỷ vương.
Cứu vạn sanh linh đang thống khổ,
Dám đâu hờ hửng, lại vô lương.
(12)
Vô lương, gót giặc đến đầy nhà,
Tiếng Hịch truyền đi vạn dặm xa.
Chiến sĩ lên đường, xương máu đổ,
Thê nhi tiễn biệt, lệ châu sa.
Giao tranh, lũ giặc đà thua thế,
Xuất trận, quân ta đã thắng đà.
Khốn nỗi cơ Trời xui định đặt,
Giáp gươm liệng xuống, cứu muôn gia.
(13)
Muôn gia tang tóc. Hỡi người trai !
Mòn mỏi trông chờ, cánh nhạn bay.
Chén ngọc bồ đào sao mặn đắng,
Chung ngà cúc tửu quá chua cay.
Rưng rưng khóe mắt, dòng châu cạn,
Ràn rụa bờ mi, nước mắt đầy.
Diệu vợi non sông còn cách biệt,
Màn đêm rũ xuống khối u hoài.
San Jose, Họa xong ngày 15/Oct/2004
ĐôngThiênTriết
——————————————————————-
Bài Xường Liên Hoàn Thập Tam Khúc
THU ẨM
1.
Chiều thu xao xác lá vàng bay
Độc ẩm tiêu sầu dưới bóng cây
Gió thoảng lao xao bờ liễu rũ
Đàn ngân réo rắt khúc mơ say
Bâng khuâng dõi ngóng trời quê mẹ
Ngơ ngẩn mơ mòng bóng dáng ai
Chén cạn nhưng sầu sao chẳng cạn
Biết ai tâm sự mối tình hoài
Bạch Loan
———————————–
2.
Biết ai tâm sự mối tình hoài
Thu đến bao lần lá úa phai
Cúc tửu lưng bầu ngâm “túy ngọa”
Quỳnh tương cạn chén đón heo may
Thơ sầu mấy vận hồn tê tái
Rượu đắng đôi chung dạ ngất ngây
Mây xám giăng giăng mờ cố quận
Trăng buồn trăng rụng xuống non Đoài
Viễn Khách
———————————–
3.
Trăng buồn trăng hởi nhớ thương ai
Cho dáng trăng mơ mãi trãi dài
Trên đỉnh thu phong chờ bóng úa
Dưới hồ xuân nguyệt gợi tình phai
Lung linh thổn thức hồn sơn nhủ
Lấp lánh ngậm ngùi khách viễn nhai
Nâng chén cạn rồi lòng chửa ấm
Tìm đâu non nước, lệ u hoài
Glc
———————————-
4.
U hoài một bóng chốn tha phương
Vó ngựa chiều nao biệt chiến trường
Bảo Kiếm lạnh lùng treo vách đá
Chiến y hờ hững ném bên đường
Trăng khuya hiu hắt hồn cô quạnh
Quê cũ xa mờ dạ vấn vương
Đâu đó não nùng con quốc gọi
Hay là tiếng nấc của quê hương ?!
Bạch Loan-(10/10/04)
———————————–
5.
Quê hương hai tiếng vọng đêm trường
Mấy độ Thu về kiếp viễn phương
Ngắm ánh trăng thanh sầu cố quốc
Nâng bầu rượu đắng tủi tha hương
Thanh gươm đã gãy nhìn rơi lệ
Yên ngựa đà rơi thấy đoạn trường
Sông núi còn đây mà nước mất
Trời già gây lắm cảnh tang thương
Viễn Khách
———————–
6.
Tang thương dâu bể đoạn can trường
Độc ẩm đêm Thu nhớ cố hương
Xao xác gió buồn lay rặng liễu
Mơ màng trăng sáng quyện hàng dương
Đèn tàn, khóe mắt rưng rưng lệ
Bấc lụn, ngoài hiên lất phất sương
Tâm sự ngổn ngang sầu khó giải
Tình quê nghĩa nước nặng đôi đường
Viễn Khách
———————————–
7.
Tình quê nghĩa nước nặng như nhau
Phương ấy vọng đầu dạ nhói đau
Khóm cúc ngoài hiên còn đượm sắc ?
Nhành tre sau ngỏ vẫn tươi màu ?
Tường rơm xóm vắng cha chờ đó
Mái lá thôn xa mẹ đợi đâu
Ải Bắc chim xa còn nhớ tổ
Gió thu buốt lạnh nỗi u sầu
Glc-12/10/2004
————————
8.
Gió thu buốt lạnh nỗi u sầu
Xót dạ ngoảnh nhìn cảnh bể dâu
Phố thị điêu tàn hoang bóng giặc
Mả xa thản thốt loạn chân cầu
Anh hùng mạt vận lìa biên ải
Dũng tướng cùng đường giục vó câu
Viễn xứ chập chùng muôn vạn nẻo
Dặm trường ly khách biết về đâu
Bạch Loan-(11/10/04)
———————————–
9.
Về đâu khi bóng ngả chiều tà
Lối cũ rêu mờ phủ cỏ hoa
Trước mặt đèo cao không lữ quán
Sau lưng biển rộng thấy đâu nhà
Đau lòng quân tử ngày vong quốc
Nát dạ thuyền quyên buổi biệt gia
Vạn dặm quan san mờ mịt khói
Trời già cay nghiệt, hận đời ta
Viễn Khách
—————————-
10.
Đời ta phiêu bạt kiếp không nhà
Xóm cũ làng xưa diệu vợi xa
Đêm vắng não nùng thay tiếng quốc
Trăng khuya thê thảm bấy canh gà
Non sông thống khổ hờn cây cỏ
Đất nước điêu linh hận lá hoa
Tổ quốc vang vang lời réo gọi
Quằn vai nặng trĩu gánh sơn hà
Viễn Khách
———————————–
11.
Sơn hà đất nước nhắn tha hương
mong mỏi người về nhớ tiếc thương
nhảy múa đêm trăng vang khúc hát
vũ ca rằm nguyệt trổi đàn tương
năm tàn cách biệt người mong nhớ
tháng lụn xa rời  kẻ vấn vương
đất mẹ đợi đàn con viễn xứ
quay về xây lại cảnh thê lương
Nguyen22
————————
12.
Thê lương nổi nhớ cảnh non nhà
Nam Việt sầu mong kẻ viễn xa
cẩm tú sơn hà bao tinh túy
đan thanh vân thủy mấy phong sa
giang sơn tình luyến còn ngây ngất
non nước mộng vơi vẫn đậm đà
tuổi loạn ôm trời suy ảo tưởng
tình xưa nghĩa cũ nghĩ gia gia
Nguyen22
——————————–
13.
Gia vong quốc biến bận lòng trai
Viễn xứ một mình ngắm lá bay
Nốc chén rượu tàn hồn rả rượi
Hớp chung trà nguội dạ chua cay
Bên trời thấp thoáng chòm mây bạc
Trước mặt mênh mông sóng nước đầy
Xao xác lạnh lùng cơn gió thổi
Biết ai tâm sự m mối t ình hoài
Bạch Loan- (13/10/04)
YOU MAY ALSO LIKE : http://suoinguontuoitre.blogspot.com/2017/11/ong-sau-thu-sau-tho-ong-thien-triet.html

Leave a Reply